PHÂN TÍCH THI PHÁP BÀI THƠ NHỚ RỪNG
1/ Tựa Đề:
Nếu tựa đề chỉ là Nhớ Rừng thì người đọc còn chút bối rối – có thể nghĩ đến một con vật khác, một nơi chốn khác. Nhóm chữ trong ngoặc đơn (Lời con hổ ở vườn bách thú) làm cảm giác bối rối không còn nữa vì điều cần lý giải đã được lý giải.
Như vậy, tựa đề Nhớ Rừng (kèm theo nhóm chữ trong ngoặc đơn) là hợp lý, đã chỉ ra “cái cốt tủy của toàn bài”
2/ Ngôn Ngữ Hình Tượng:
Đẹp, dễ hiểu, mạnh mẽ, hợp với cảnh thơ.
3/ Câu:
Câu dài nhưng mạch lạc, đọc đến đâu hiểu đến đó
4/ Tứ Thơ:
Mượn lời con Hổ trong vườn Bách Thú để bày tỏ tâm trạng chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và nỗi khao khát tự do.
5/ Biện Pháp Tu Từ:
Tại sao Thế Lữ mượn lời con Hổ để bày tỏ nỗi niềm sâu kín của mình?
Có 2 điều lợi:
1/ Những điều hay, điểm tốt của mình, nếu tự nói ra thì – “ôi thôi cái tôi đáng ghét” - còn đâu là nét đẹp của sự khiêm tốn.
2/ Con Hổ là loài thú, không quen dối trá nên tiếng nói của nó đáng tin hơn, chinh phục độc giả dễ dàng hơn.
Khi đã nhập vào Con Hổ, nhờ nó nói hộ những nỗi niềm sâu kín trong tâm hồn mình là thi sĩ đã tin tưởng nó để “chọn mặt gởi vàng”. Sự chân thật thì khỏi bàn luận vì con Hổ vốn dĩ không biết dối trá, ba xạo. Nhưng cách cai trị của nó thì lại có vấn đề.
Bản tính của con Hổ là tàn bạo dã man. Đạt được danh hiệu Chúa Sơn Lâm không phải từ một cuộc bầu cử tự do mà bằng những cuộc tàn sát, máu đổ thịt rơi từ đời này sang đời khác.
Nếu được thoát khỏi vườn Bách Thú để về rừng làm Chúa Sơn Lâm nó sẽ chẳng nghĩ đến một thể chế dân chủ cho các loại cư dân nơi rừng núi mà sẽ tiếp tục cách cai trị độc tài, tàn bạo, nghĩa là sẽ tiếp tục uống máu, ăn thịt - kiểu ăn tươi nuốt sống - thần dân của mình.
Không biết khi hoàn tất bài thơ và những năm sau đó Thế Lữ có nhận ra là mình đã “trao duyên lầm tướng cướp” hay không? Nhưng cái sơ sót của thủ pháp kỹ thuật “nhập vào ai đó”, nhờ nói hộ nỗi niềm riêng của mình (mà không truy xét lý lịch) nay đã lộ diện làm mất đẹp một “mảng” quan trọng của bài thơ.
Nhà thơ Vũ Quần Phương khi bình bài thơ Nhớ Rừng đã dùng đoạn kết để nói về điểm này:
“Còn một lý do nhỏ nữa: tự do của con hổ là tự do của một ông chúa, Ta biết ta chúa tể cả muôn loài, khát khao tự do của hổ, qua một loạt hình tượng của bài, là khát khao ngự trị, khao khát tước đoạt tự do của kẻ khác. Cho nên coi hổ trong cũi là thân phận của dân tộc ta e có chỗ khó giải thích khi nói tới tính thống nhất của hình tượng.”
Riêng tôi, xin nói thẳng:
Những cá nhân nào, tập thể nào muốn ké chút hào khí, muốn mượn Oai Hùm kiểu Thế Lữ trong Nhớ Rừng sẽ phải chuẩn bị để lãnh luôn cái “mũ” độc tài khát máu, tàn bạo dã man của loài Hổ - mà khi chuyển qua loài người sẽ thành hai chữ Bất Nhân to tướng.
6/ Câu Thơ Phá Lệ
Bài thơ 47 câu trong đó 46 câu đều đặn 8 chữ, chứng tỏ tác giả tôn trọng luật thơ nghiêm túc. Có một câu 10 chữ:
“Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi”
theo tôi, chắc không phải do ông “phóng túng” mà vì bị “kẹt”. Câu thơ hay quá mà không có cách nào bỏ bớt 2 chữ nên đành phá lệ một cách bất đắc dĩ.
Ở cái thời bài thơ Nhớ Rừng ra đời (1934), Thế Lữ - một trong những cây bút đầu tiên trong phong trào Thơ Mới – dám hiên ngang phá luật để bảo vệ một câu thơ hay là điều rất đáng nể phục.
7/ Câu Thơ Cản Đường
Đoạn kết của bài thơ có 8 câu:
Hỡi oai linh, cảnh nước non hùng vĩ!
Là nơi giống hùm thiêng ta ngự trị,
Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa
Nơi ta không còn được thấy bao giờ!
Có biết chăng trong những ngày ngao ngán
Ta đang theo giấc mộng ngàn to lớn
Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!
trong đó câu “Nơi ta không còn được thấy bao giờ” biểu lộ một tâm trạng hoàn toàn tuyệt vọng, không còn thấy dù chỉ một chút ánh sáng le lói cuối đường hầm. Câu thơ ấy không những không “cùng hướng” mà còn cản đường 7 câu còn lại khiến ấn tượng đẹp về “hào khí ngất trời”, “niềm khao khát tự do” của con Hổ bị rơi rớt rất nhiều.
8/ Chức Năng Truyền Thông
Mặc dù có “câu thơ cản đường” và chút rắc rối ở biện pháp tu từ, theo tôi, độc giả vẫn “bắt” được tứ thơ tương đối dễ dàng. Chức năng truyền thông của bài thơ vẫn được coi là thành công.
9/ Bố Cục, Thế Trận
Theo tôi, bài thơ có thể được chia làm 4 phần:
a/ Đoạn 1: Tâm trạng của con Hổ trong vườn Bách Thú
b/ Đoạn 2 + 3: Nhớ lại thời còn là Chứa Sơn Lâm nơi núi rừng hùng vĩ.
c/ Đọan 4: Những giây phút “mộng mơ” vừa dứt, thực tế phũ phàng của cảnh vườn Bách Thú trở về với bao nỗi bực dọc, uất hận.
d/ Đoạn 5: Nhớ và khao khát được trở lại cuộc sống tự do trên giang sơn cũ của mình.
10/ Thể Thơ
Nhớ Rừng viết theo thể Thơ Mới nhất khí liền mạch - tứ thơ trải dài từ câu đầu đến câu cuối – khác với Thơ Mới Trường Thiên phân mảnh đứt đoạn, mỗi đoạn 4 câu. Thí dụ: Ta Về của Tô Thùy Yên
11/ Vần
Vần liên tiếp gieo ở cuối câu. Ngoài chữ “sắt” ở cuối câu đầu vần trắc không gieo vần:
Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
Hai câu kế tiếp vần bằng, hai câu tiếp nữa vần trắc, cứ thế cho đến hết bài. Bài thơ có 47 câu, 23 cặp vần cứ đến hẹn lại lên - hội chứng nhàm chán vần khá nặng.
12/ Nhịp Điệu
Như đã đề cập ở trên, Nhớ Rừng 47 câu trong đó 46 câu 8 chữ “cứng ngắc” làm nhịp điệu của bài thơ đều đều tẻ nhạt. Tệ hại hơn nữa, nhịp điệu tẻ nhạt càng làm hội chứng nhàm chán vần rõ nét hơn.
13/ Phong Thái Của Thi Sĩ Lúc Làm Thơ
Thi sĩ phóng bút trong lúc cao hứng, dạt dào cảm xúc. Có một chút bó buộc là phải bơm vào mỗi câu cho đủ 8 chữ nhưng ông đã vượt qua được. Caí giá phải trả là hạ thấp cường độ của hồn thơ.
15/ Dòng Chảy Của Tứ Thơ
Do thể thơ nhất khí liền mạch nên những mảnh tâm sự của tác giả nhập vào các con chữ có lớp, có lang thành dòng tứ thơ chảy khá mạnh từ câu đầu đến câu cuối.
16/ Dòng Âm Điệu
Thơ nhất khí liền mạch, vần liên tiếp nên bài thơ có âm điệu du dương chảy thành dòng.
12/ Nhịp Điệu
Như đã đề cập ở trên, Nhớ Rừng 47 câu trong đó 46 câu 8 chữ “cứng ngắc” làm nhịp điệu của bài thơ đều đều tẻ nhạt. Tệ hại hơn nữa, nhịp điệu tẻ nhạt càng làm hội chứng nhàm chán vần rõ nét hơn.
18/ Dòng Cảm Xúc
Tác giả đang cao hứng lại được các mảnh tâm trạng liên tục tuôn xuống trang thơ cho sóng sau dồn sóng trước nên cảm xúc tầng 3 nhập với tứ thơ, âm điệu, nhịp điệu thành một dòng khá mạnh.
19/ Độ Dài Của Bài Thơ
Bài thơ có độ dài lý tưởng để tạo hồn thơ và đã tạo được hồn thơ.
20/ Cảm Xúc Tầng 1
Từ ngôn ngữ, hình tượng, câu cú: Rất mạnh
21/ Cảm Xúc Tầng 2
Từ thế trận câu chữ: Trung bình – do ảnh hưởng của “câu thơ cản đường” và tác giả đã “trao duyên lầm tướng cướp” trong biện pháp tu từ.
22/ Cảm Xúc Tầng 3
Hồn thơ khá mạnh.
Cái Nền Kỹ Thuật Của Bài Thơ
1/ Nhớ Rừng có thể thơ “nhất khí liền mạch”, trải dài từ câu đầu đến câu cuối chứ không phân mảnh, đứt đoạn. Điều kiện này giúp tứ thơ chảy thành dòng.
2/ Mỗi câu 8 chữ cứng ngắc nên nhịp điệu đều đều tẻ nhạt.
3/ Ngôn ngữ, hình tượng “dễ tiêu”, câu dài nhưng dễ hiểu, dễ cảm, không có mô gò cản đường nên dòng chảy của tứ thơ thông thoáng và khá mạnh, níu giữ người đọc ở lại với bài thơ.
4/ Vần liên tiếp – 23 cặp vần / 47 câu. Như thế là hơi nhiều. Nhịp điệu đều đều tẻ nhạt nên hội chứng nhàm chán vần rõ nét hơn. May nhờ dòng tứ thơ chảy khá mạnh cộng với cơn cao hứng của tác giả nên hóa giải được vài phần nhưng cảm giác nhàm chán vẫn còn.
5/ Độ dài của bài thơ:
Bài thơ có 47 câu, thừa “đất” để giới thiệu cảnh thơ và để những mảnh tâm trạng của tứ thơ nối tiếp tuôn ra cho sóng sau dồn sóng trước tạo hồn thơ.
Nhớ Rừng có hồn thơ khá mạnh.
Tóm lại, Cái Nền Kỹ Thuật của Nhớ Rừng rất tốt. Nếu thi sĩ nào muốn lấy Cái Nền Kỹ Thuật này làm “sườn” để viết bài thơ khác thì chỉ cần thay đổi số chữ trong câu (với biên độ rộng) để nhịp điệu uyển chuyển - giải quyết vấn nạn nhàm chán vần - là có cái bệ vững chắc để phóng bài thơ “bay” tới bến.
(1731 chữ)
Bình Bài Thơ NHỚ RỪNG thi sĩ Vũ Quần Phương Đã Bộc Lộ Những ƯU KHUYẾT ĐIỂM Gì?
Không là dòng chảy trong mương
Không là sóng cả đại dương thăng trầm
Người – êm ái mạch nước ngầm
Chảy trong tôi suốt tháng năm vụng về.
NHÂN TÌNH CỦA NHỮNG ÁNG VĂN XANH
1/
Bầu bạn với văn chương
em nhẹ lướt đi
bồng bềnh giữa ngút ngàn câu chữ
nháy mắt cười
với ca dao, ngạn ngữ
nhưng rồi …
chỉ nồng nàn với riêng anh
2/
Anh trải rộng
những cánh đồng mướt xanh
em ngửa mặt hít hà hương lúa mới
anh tuôn chảy dòng sông diệu vợi
thuyền em trôi thênh thang
3/
Tình mình lặng thầm mà chứa chan
em có thể cười vang
khi gặp gỡ
có thể vỗ về
ru êm vào giấc ngủ
tha thiết không còn đủ với đời
em son sắt văn chương
4/
Câu chữ vấn vương
âm vần lưu luyến
và từ giờ em nguyện
làm nhân tình của những áng văn xanh.
(VÂN ANH)
MỘT SỐ KHUYẾT ĐIỂM TRONG BÀI BÌNH THƠ “NHỚ RỪNG” CỦA VŨ QUẦN PHƯƠNG
1/ Không Bàn Đến Cái Nền Kỹ Thuật Của Bài Thơ
Đây là khuyết điểm lớn nhất, quan trọng nhất. Nhà bình thơ không bàn đến cái nền kỹ thuật của bài thơ nghĩa là đã giết chết “Tính Thơ”, “Chất Thơ”, đối xử với bài thơ như một bài văn không hơn, không kém.
THAM KHẢO
1/ How to Analyze Poetry: 10 Steps for Analyzing a Poem
https://www.masterclass.com/articles/how-to-analyze-poetry#what-is-poetry-analysis
2/ Analyzing Poetry - University Writing Center (UWC)
3/ How to Analyze a Poem
https://www.youtube.com/watch?v=idiQ6WAOWV0
4/ How to Analyze a Poem Effectively
https://grammar.yourdictionary.com/writing/how-to-analyze-a-poem-effectively.html
5/ How to Analyze Poetry
https://www.cliffsnotes.com/literature/a/american-poets-of-the-20th-century/how-to-analyze-poetry
Comments
Post a Comment